Ngày xửa ngày xưa, vào đời vua Hùng Vương thứ sáu, sau khi dẹp xong giặc Ân, nhà vua muốn truyền lại ngôi cho con. Nhưng nhà vua có những hai mươi người con trai, không biết chọn ai cho xứng đáng. Nhà vua bèn gọi các con lại và bảo:

Tổ tiên ta từ khi dựng nước, đã truyền được sáu đời. Giặc Ân nhiều lần xâm lấn bờ cõi, nhờ phúc ấm Tiên vương ta đều đánh đuổi được, thiên hạ được hưởng thái bình. Nhưng ta già rồi, không sống mãi ở đời, người nối ngôi ta phải nối được chí ta, không nhất thiết phải là con trưởng. Năm nay, nhân lễ Tiên vương, ai làm vừa ý ta, ta sẽ truyền ngôi cho, có Tiên vương chứng giám.

Các lang (hoàng tử) ai cũng muốn có được ngôi báu, nên cố gắng nghĩ cách làm vừa ý vua cha. Nhưng ý vua cha thế nào, không ai đoán được. Họ chỉ biết thi nhau làm lễ thật lớn, thật ngon để đem về lễ Tiên vương.

Người buồn nhất là Lang Liêu. Chàng là con thứ mười tám, mồ côi mẹ từ nhỏ. So với anh em, chàng là người thiệt thòi nhất. Những anh em của chàng sai người đi tìm của quý trên rừng, dưới biển. Còn chàng, từ khi lớn lên, đã ra ở riêng chỉ chăm lo việc đồng áng, trồng lúa, trồng khoai, bây giờ nhìn quanh nhà cũng chỉ có khoai, lúa là nhiều. Nhưng khoai, lúa thì chàng sợ sẽ tầm thường quá.

Chỉ còn vài ngày nữa là tới ngày dâng lễ vật, nhưng Lang Liêu vẫn chưa chuẩn bị được thứ gì cả, chàng rất lo lắng. Bỗng đêm hôm đó, chàng nằm mộng thấy một vị thần đến bảo:

Này con, vật trong Trời Đất không có gì quý bằng gạo, vì gạo là thức ăn nuôi sống con người. Con hãy nên lấy gạo nếp làm bánh hình tròn và hình vuông, để tượng hình Trời và Đất. Hãy lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột bánh, để tượng hình Cha Mẹ sinh thành.

Tỉnh dậy, Lang Liêu mừng thầm. Càng ngẫm nghĩ, chàng càng cảm thấy lời vị thần nói đúng. Chàng bèn chọn thứ gạo nếp thơm lừng, trắng tinh, hạt nào hạt nấy tròn mẩy, đem vo thật sạch, lấy đậu xanh, thịt lợn làm nhân, dùng lá dong trong vườn gói thành hình vuông, nấu một ngày một đêm thật nhừ. Tiếp theo, cũng thứ gạo nếp ấy, chàng đồ lên, giã nhuyễn, nặn bánh hình tròn.

Đến ngày lễ Tiên vương, các lang mang sơn hào hải vị, nem công chả phượng tới, chẳng thiếu thứ gì. Vua cha xem qua một lượt rồi dừng lại trước chồng bánh của Lang Liêu, rất vừa ý, bèn gọi lên hỏi. Lang Liêu đem giấc mộng gặp vị thần ra kể lại. Vua cha ngẫm nghĩ rất lâu rồi chọn hai thứ bánh ấy đem tế Trời, Đất cùng Tiên vương.

Lễ xong, vua cho đem bánh ra ăn cùng với quần thần. Ai cũng tấm tắc khen ngon. Vua họp mọi người lại nói:

Bánh hình tròn là tượng trưng cho Trời ta đặt tên là bánh giầy. Bánh hình vuông tượng trưng cho Đất, các thứ thịt mỡ, đậu xanh, lá dong là tượng trưng cho muôn thú, cây cỏ muôn loài, ta đặt tên là bánh chưng. Lá bọc ngoài, mĩ vị để trong là ngụ ý đùm bọc nhau. Lang Liêu đã dâng lễ vật hợp với ý ta. Lang Liêu sẽ nối ngôi ta, xin Tiên vương chứng giám.

Từ ấy, nước ta chăm nghề trồng trọt, chăn nuôi và có tục ngày Tết làm bánh chưng, bánh giầy. Thiếu bánh chưng, bánh giầy là thiếu hẳn hương vị ngày Tết.

Xem thêm: Tục gói bánh chưng ngày Tết

Sưu tầm, tổng hợp