Sau khi đã làm chủ đất Văn Lang, An Dương Vương đổi tên nước là Âu Lạc. Đóng đô ở Phong Khê và lo dựng một tòa thành vững chắc, phòng chống lại quân giặc lăm le xâm lược. Nhà vua chọn một vùng đất cao, thuận tiện đường bộ đường sông và cho khởi công xây thành. Hằng ngày, nhà vua đích thân cùng các tướng trông nom việc đào đất, nung gạch, đẽo đá, chở gỗ,… Chẳng bao lâu, tường thành dài mấy trăm trượng đã cao quá ngọn cây lớn. Bỗng một đêm trăng mờ, dân vùng Phong Kê nghe tiếng gà gáy rợn người. Một con Gà trống to trắng toát, đậu trên tường thành, xung quanh nó là một vầng khí độc mờ mờ, ảo ảo. Con Gà vươn cổ gáy một chặp. Phút chốc, khí lạnh ở đâu bay về, mây mưa kéo tới rồi đổ xuống như trút. Con gà vẫn ra sức gáy át cả tiếng mưa. Nước sông, nước hồ, nước đầm dâng cao, cuộn chảy xói vào chân thành. Quân của Gà trắng theo nước lên dũi phá tường thành. Chỉ qua một đêm, cả dãy tường thành đồ sộ đổ sập hết. Nhà vua cho đắp ngay lại thành, nhưng đến đêm Gà tinh lại xuất hiện, gáy hú mưa gọi gió, thành lại sụp.

Đắp đi đắp lại mãi không xong thành, An Dương Vương lo nghĩ quên ăn, mất ngủ. Một hôm, vua đang xem xét những bức tường đổ nát. Bỗng một ông già chống gậy trúc hiện ra. Ông già tự xưng là thần đất và tâu với vua rằng:

Xin đức vua chớ lo nghĩ. Sớm mai ngài nhớ ra bến sông, sẽ có khách quý giúp xây thành.

Mờ sáng hôm sau, An Dương Vương ra bến sông đợi. Sương vừa tan thì một con rùa vàng rất lớn nổi lên mặt nước. Rùa vàng xưng là thần Kim Quy và nói:

Ở núi Tây có hồn ma kẻ bội phản biến thành con gà tinh trắng, rắp tâm chống lại nghiệp lớn của nhà vua. Phải trừ cho bằng được con gà tinh thì thành mới đắp xong.

Nói đoạn, thần Kim Quy hóa phép biến thành một tráng sĩ trẻ tuấn tú. Còn nhà vua cải trang thành khách đi đường. Hai người lên đường tìm đến núi Tây. Khi đó Gà tinh tụ tập lũ lâu la trong một hang đá sâu. Chúng hí hửng vì đã mấy lần phá sập được thành của An Dương Vương. Thần Kim Quy dẫn nhà vua tới sào huyệt của lũ yêu ma, rồi trao thanh gươm báu cho nhà vua rồi dặn:

Bệ hạ canh cửa hang trên còn thần chặn cửa hang dưới. Khi lũ yêu quái chạy ra, bệ hạ hãy dùng gươm này chém cho chúng mất đầu.

Thần nói xong, hiện lại thành rùa vàng lặn xuống khúc sông ở chân núi. Phút chốc, dưới hang có tiếng la hét ầm ĩ. Nước sông ùng ục sủi bọt. Xác rắn, thuồng luồng nổi kín mặt nước. Con Gà tinh vỗ cánh kêu hoảng, vừa ngó đầu ra cửa hang trên đá, đã bị An Dương Vương vung gươm thần chém chết. Rùa vàng từ dưới nước bơi lên nhận lại thanh gươm báu rồi bứt một cái móng chân đưa cho An Dương Vương và nói:

Bệ hạ giữ lại móng này để làm lẫy nỏ. Khi có giặc thì đem ra bắn, ắt giặc phải tan.

Nói xong rùa vàng từ biệt nhà vua và bơi đi. Sau khi trừ được yêu quái, An Dương Vương lại bắt tay vào việc xây thành. Bấy giờ có ông Cao Lỗ xin được gặp nhà vua để hiến kế. Được vua vời vào cung, Cao lỗ trình lên vua bản vẽ mẫu thành. An Dương Vương xem xong rất vui. Vua truyền ngay rằng:

Kế của ngươi hay lắm! Từ nay ngươi sẽ giúp ta xây thành.

Từ đó hết ngày này sang ngày khác, Cao Lỗ tận tụy giúp vua trông coi công việc. Chẳng bao lâu, tòa thành đã dựng xong, cao ngất như núi, dài hơn ngàn trượng, lớp nọ lồng lớp kia, xoáy tròn trôn ốc gọi là Loa Thành.

An Dương Vương mừng rỡ thấy việc xây thành đã xong, liền giao chiếc móng rùa vàng cho Cao Lỗ làm lẫy nỏ. Cao Lỗ miệt mài ngày đêm chế được cái nỏ uy lực vô cùng, một lúc bắn liền trăm phát. Nhà vua quý nỏ thần lắm, luôn giữ bên mình.

Bấy giờ Triệu Đà làm chúa đất Nam Hải. Mấy lần ông ta kéo binh sang xâm chiếm Âu Lạc, đều bị An Dương Vương dùng nỏ thần bắn cho tan tác. Biết không thể thắng nổi, Đà quỷ quyệt xin giảng hòa với An Dương Vương, rồi sai con trai là Trọng Thủy vờ sang cầu hôn với nàng Mỵ Châu, con gái yêu của nhà vua, chú ý dò xét cách dàn quân bày trận và vũ khí bí mật của Âu Lạc. Nhưng Trọng Thủy mê say sắc đẹp của nàng Mỵ Châu quên bẵng lời cha dặn. Triệu Đà giận lắm, mật sai người chuyển thư quở trách con trai và nhắc nhở phải mau chóng đưa tin về tình hình thành ốc.

Cao Lỗ ngầm đoán được hiểm ý của Triệu Đà. Ông can ngăn nhà vua không nên cho chàng rể đi lại xem xét những nơi xung yếu trong thành và khuyên vua chớ lơi lỏng việc quân. Trọng Thủy biết vậy liền tung tin Cao Lỗ có ý làm phản. An Dương Vương cả tin cách chức Cao Lỗ cho trở về quê nhà.

Cao Lỗ ra đi lòng đau như cắt, ông nhờ người tâu lại với nhà vua rằng:

Giữ được nỏ thần thì giữ được thiên hạ. Mất nỏ thần thì mất thiên hạ.

Trọng Thủy loại xong Cao Lỗ, liền ráo riết thực hiện lời dặn của Triệu Đà. Anh ta sục sạo mọi nơi trong thành ngoài lũy và dỗ vợ cho xem chiếc nỏ thần. Mỵ Châu ngây thơ và cả tin, kể cho chồng nghe chuyện thần Kim Quy đã tặng vua cha chiếc móng để làm lẫy nỏ. Trọng Thủy liền đánh tráo lấy lẫy nỏ thần rồi tìm cách trở về Nam Hải.

Khi chia tay, Trọng Thủy đăm đăm nhìn Mỵ Châu khẽ nói:

Chuyến này phải xa nàng lâu, khi quay về, nếu chẳng may gặp giặc giã, ta biết tìm nàng ở đâu?

Mỵ Châu nghẹn ngào trả lời:

Thiếp có tấm áo lông ngỗng. Nếu gặp loạn lạc, đi đến đâu thiếp sẽ bứt lông ngỗng dắt xuống đường làm dấu, chàng theo đó mà tìm.

Vừa đặt chân đến Nam Hải, Trọng Thủy đã vội đi gặp cha ngay. Triệu Đà cầm lẫy nỏ thần trong tay, mừng quýnh reo lớn:

Xứ Âu Lạc đã ở trong túi ta rồi.

Liền đó, Đà chiêu tập binh mã, bất ngờ kéo sang đánh Âu Lạc. Quân của Đà nhanh chóng tiến đến sát Loa Thành. An Dương Vương ỷ vào nỏ thần, vẫn điềm nhiên ngồi đánh cờ, cười nói:

Đà không sợ nỏ thần sao.

Khi giặc phá cổng thành, nhà vua mới sai đem nỏ thần ra, bắn liền ba phát. Không thấy giặc tan, vua bàng hoàng sửng sốt, nhận ra nỏ thần đã mất hiệu nghiệm. Lúc bấy giờ, quân Âu Lạc mới ra chống cự thì đã quá muộn.

Biết không thể xoay chuyển được tình thế nguy ngập, An Dương Vương đành lật đật lên ngựa rút chạy, đem theo cả Mỵ Châu. Vị tướng già Cao Lỗ từ nơi xa nghe tin dữ, với cùng người học trò lên ngựa phóng về Loa Thành. Giữa đường gặp An Dương Vương, hai người lập tức theo hộ vệ cho nhà vua lánh giặc.

Triệu Đà chiếm được Loa Thành, liền phái Trọng Thủy dẫn quân đuổi theo An Dương Vương. Thầy trò Cao Lỗ xông ra cản đường giặc cho vua chạy, nhưng vì quân giặc quá đông, hai người cầm cự được nửa ngày thì kiệt sức, gục ngã trên lưng ngựa.

Không còn ai ngăn cản, Trọng Thủy cứ theo dấu lông ngỗng mà đuổi theo cha con An Dương Vương. Nhà vua chạy đến bờ biển, hai cha con định xuống ngựa ngồi nghỉ thì quân giặc đã gần đến.

Biết không còn đường nào chạy thoát, An Dương Vương liền hướng ra biến, khấn thần Kim Quy phù hộ cho mình. Vua vừa khấn xong thì một cơn gió lốc cát bụi bốc lên mù mịt, làm rung chuyển cả núi rừng. Thần Kim Quy xuất hiện, bảo An Dương Vương rằng:

Kẻ ngồi sau lưng vua chính là giặc đó!

An Dương Vương chợt tỉnh ngộ, liền rút gươm chém Mỵ Châu, rồi theo rùa vàng rẽ nước xuống biển sâu.

Khi Trọng Thủy tới nơi, thấy xác vợ nằm đó. Trọng Thuỷ khóc oà lên, thu nhặt thi hài đem về chôn trong thành, rồi đâm đầu xuống giếng trong thành mà xưa kia Mỵ Châu thường tắm.

Ngày nay, ở làng cổ Loa, trước đền thờ An Dương Vương, còn cái giếng gọi là giếng Trọng Thuỷ. Tục truyền khi Mỵ Châu đã bị cha giết chết rồi, máu nàng chảy xuống biển, trai ăn được nên mới có ngọc châu. Lấy được ngọc trai ấy đem về rửa bằng nước giếng trong thành Cổ Loa thì ngọc trong sáng vô cùng.

Sưu tầm, tổng hợp