Ngày xửa ngày xưa, vào thời Vua Hùng Vương thứ 17, nhà vua có nhận một người con nuôi tên là Mai An Tiêm. Mai An Tiêm nhanh nhẹn, tháo vát, lại chăm chỉ nên được nhà vua hết mực yêu mến và còn gả cả công chúa cho chàng nữa. Vua rất yêu quý An Tiêm nên thường ban cho chàng nhiều của ngon vật lạ.

Tất cả mọi người ai được nhận lộc vua ban đều nâng niu ca tụng, riêng An Tiêm lại bảo rằng:

Của mình làm ra mới quý, còn của biếu là của lo, của cho là của nợ.

Chàng vẫn chăm chỉ làm lụng, không hề có ý trông chờ vào bổng lộc vua ban.

Đám quan nịnh thần chỉ chờ có thế, bèn đem câu nói của Mai An Tiêm tâu lên nhà vua. Nhà vua vô cùng tức giận và cho rằng chàng là thật kiêu căng và vô ơn. Nhà vua nói:

Đã thế để xem, nếu chỉ trông vào sức mình xem liệu có sống nổi không.

Ngài sai quân lính bắt giữ Mai An Tiêm rồi đuổi cả gia đình chàng ra đảo hoang.

Cả gia đình Mai An Tiêm lênh đênh trên biển biết bao nhiêu ngày, cuối cùng, họ cũng cập bến lên một hòn đảo. Nhìn cảnh hòn đảo hết sức hoang vu, vợ Mai An Tiêm khóc lóc kêu lên:

Sao khổ thế này! Biết vậy thì chúng ta không nên làm nhà vua tức giận.

Mai An Tiêm an ủi vợ:

Trời đã sinh ra ta, sống chết là ở Trời và ở ta. Chỉ cần có đôi bàn tay này thì chúng ta sẽ không sợ chết đói đâu.

Sau đó chàng đi xung quanh hòn đảo hoang để thăm dò. Quả thật hòn đảo này rất hoang vu và không có một bóng người, chắc chưa từng có người nào đặt chân lên đây. Trên đảo chỉ có chút cây cỏ mọc lơ thơ và vài loài chim biển sinh sống. Chàng tìm kiếm mãi mới tìm được chút quả dại chua chát và chút rau dại để ăn tạm qua ngày.

Kể từ khi đó, hàng ngày An Tiêm đi khắp con đảo tìm những loại rau rừng để trồng, kiếm quả rừng để ăn. Vợ An Tiêm thì ra biển bắt cá, cua, ốc,… Chàng còn tìm cách làm bẫy bắt chim, nhưng rồi dần dần lũ chim cũng đề phòng nên rất khó bẫy được. Cuộc sống vô cùng khó khăn, nhưng An Tiêm vẫn nuôi trong mình một hy vọng rồi sẽ có ngày cuộc sống sẽ khấm khá lên.

Tình cờ một hôm, Mai An Tiêm phát hiện ra có một đàn chim từ phương Tây bay tới, chúng đang ăn một loại hạt gì đó màu đen. Mai An Tiêm nghĩ thầm:

Hạt này chim ăn được thì chắc người cũng ăn được.

Nghĩ vậy, Mai An Tiêm liền thu gom hết số hạt còn lại và đem gieo trồng dưới đất. Ngày ngày, Mai An Tiêm ra sức chăm bón cho ruộng vườn của mình. Chẳng bao lâu sau, ruộng vườn của chàng trở nên xanh tốt, um tùm. Cây nở hoa, kết thành trái to, quả nào quả nấy đều có màu xanh thẫm, khi bổ ra thì bên trong ruột lại có màu đỏ tươi, mọng nước và có cả hạt màu đen nữa. Khi ăn thì lại thấy quả có vị ngon, ngọt, thơm mát.

Một ngày kia, có một chiếc tàu gặp bão, bèn cập bến vào đảo để tránh bão. Mọi người lên bãi cát, thấy có rất nhiều quả lạ, ăn rất ngon. Họ đua nhau đổi lương thực, thực phẩm với gia đình An Tiêm. Rồi từ đó, tiếng đồn vang xa rằng có một giống quả rất ngon trên hòn đảo ấy. Các tàu buôn tấp nập ghé đến tìm mua quả lạ. Nhờ đó mà cuộc sống vợ chồng An Tiêm ngày một đầy đủ, sung túc hơn.

Vì chim đã mang hạt quả từ phương Tây tới nên An Tiêm đặt tên cho thứ quả này là Tây Qua. Các thương lái Trung Quốc ăn thấy ngon, khen là “hẩu”, nên sau người ta gọi lái đi là trái Dưa Hấu.

Dưa nhiều ăn không hết, nên Mai An Tiêm khắc tên của mình lên trên những trái dưa hấu ấy, rồi thả những quả này xuống dưới biển. Nhân dân ở ven biển, vớt được quả này lên. Họ lấy làm lạ, bèn bổ ra ăn thử thì thấy quả có vị ngon ngọt. Họ liền đem thứ quả lạ này dâng lên nhà vua. Khi nhìn thấy quả có khắc tên Mai An Tiêm, nhà vua chợt hiểu ra tất cả. Ông vô cùng hối hận bèn cho gọi cả gia đình Mai An Tiêm trở về.

Trở về đất liền, Mai An Tiêm đem theo toàn bộ số hạt giống, phân phát cho người dân để đem gieo trồng, chăm bón. Đó chính là nguồn gốc của quả dưa hấu mà chúng ta ăn ngày nay.

Về sau, khắp nước ta, nơi đâu cũng có giống dưa hấu. Nhưng người ta nói chỉ có huyện Nga Sơn là trồng được những quả ngon hơn cả, vì nơi ấy xưa là hòn đảo An Tiêm ở, trải qua mấy nghìn năm nước cạn, cát bồi nay đã liền vào với đất.

Sưu tầm, tổng hợp