Hai Bà Trưng: Trưng Trắc và Trưng Nhị quê ở Phong Châu, là con gái yêu của Lạc tướng huyện Mê Linh (nay thuộc Hà Nội). Lạc tướng kết hôn cùng bà Man Thiện – cháu ngoại vua Hùng, sinh hạ được hai cô con gái giống nhau như hai giọt nước.

Cha mất sớm, mẹ tần tảo dồn bao tâm huyết vào việc nuôi dạy hai con khôn lớn, mong sao nối nghiệp hoàng tộc. Hai chị em không ai chịu thua kém ai, văn võ song toàn.

Lễ hôi thượng võ ở Mê Linh năm ấy thu hút nhân tài khắp nơi nô nức kéo đến thi bắt cọp. Cuộc tỉ thí hồi hộp, căng thẳng kéo dài. Cuối cùng, mãnh hổ đã gục ngã trước ngọn lao của Thi Sách. Nhưng trước đó, mũi tên đã xuyên qua mắt hổ dữ và xạ thủ ấy chính là Trưng Trắc.

Nâng chén rượu mừng chiến thắng, Thi Sách – con trai Lạc tướng huyện Chu Diên (nay thuộc Hà Nội) tỏ ý khâm phục:

Nàng là phận nữ nhi vậy mà tài năng nào kém đấng trượng phu! Ta xin bái phục!

Lời khích lệ đó cũng đã kết nối mối nhân duyên kì ngộ giữa đôi trai tài,gái sắc của hai dòng họ Lạc tướng danh tiếng khắp vùng.

Lúc bấy giờ, quan cai trị quận Giao Chỉ là Thái thú Tô Định của Nhà Hán. Vốn là kẻ ngang tàn, bạo ngược, y đã ban hành nhiều chính sách hà khắc nhằm đồng hóa người Việt, giết hại bao sinh linh để vơ vét của cải.

Dòng dõi hai họ Lạc tướng vốn thông minh, tài giỏi, có lòng yêu nước nồng nàn. Họ đã cùng nhau chung sức chung lòng, xây dựng quân khởi nghĩa để đánh đuổi kẻ thù, giành lại đất nước. Người dân Chu Diên, Mê Linh ngày đêm đỏ lửa rèn binh khí.

Thi Sách tâm sự cùng Trưng Trắc:

Nàng với ta sinh trong thời hoạn lạc. Đất nước đau thương, dân tình khổ ải. Há lại khoanh tay ngồi nhìn lũ giặc nghênh ngang uốn lưỡi cú diều? Phen này ta quyết phải sống mái một trận với giặc.

Trưng Trắc cũng đầy quyết tâm:

Là phận nữ nhi nhưng dòng máu thiếp cũng là Lạc Việt. Thiếp còn là con cháu vua Hùng, phải lấy tiết nghĩa làm trọng, lấy chữ vinh làm đầu, quyết không sống nhục!

Hai gia đình Lạc tướng cùng nhau mưu việc lớn. Họ bí mật tìm cách lên hệ với các thủ lĩnh ở mọi miền đất nước để chuẩn bị nổi dậy. Không may Thi Sách bị Tô Định giết hại. Nhiều người dân vô tội cũng bị ngã gục dưới lưỡi gươm độc ác của kẻ thù.

Chính những hành động độc ác, ngông cuồng đó của quân Hán càng làm tăng thêm lòng căm phận trong nhân dân. Mùa xuân năm 40, Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa để đền nợ nước, trả thù nhà.

Mùa xuân năm 40, bên dòng Hát Giang (Hà Tây – nay thuộc Hà Nội), hai nữ tướng khí khái, hiên ngang dưới cờ đại nghĩa cất lời thề:

Một xin rửa sạch mối thù,
Hai xin nối lại nghiệp xưa họ Hùng.

Người dân Âu Lạc lâu nay rên xiết dưới ách bạo tàn của nhà Hán, khi cờ khởi nghĩa phất lên, không khác gì đống cỏ khô gặp lửa, trong phút chốc nghĩa quân trở nên đông đảo, khí thế hừng hực. Từ căn cứ Hát Môn, lấy “sông sâu làm cứ, rừng xanh làm nhà” nghĩa quân đánh chiếm Mê Linh, rồi tiến đánh vào thành Cổ Loa (Hà Nội).

Sau khi chiếm được thành Cổ Loa, có thêm hàng ngàn quân sĩ đầu binh. Trước hàng quân, Trưng Trắc dõng dạc truyền lệnh:

Giặc Hán vốn gian ác từ lâu. Người có đức, có nhân phải nuôi chí tiễu trừ. Chúng ta, con cháu Hùng tướng vì nghĩa trừ hại, phải đánh cho sạch bóng quân thù!

Đi như trời long đất lở, đoàn hùng binh ầm ầm tiến thẳng vào dinh Thái thú Tô Định ở Luy Lâu (Bắc Ninh). Ngồi trên bành voi, Hai Bà dẫn đầu đoàn quân xông pha chiến trận.

Quân Hán tim đập chân run, tan tác bỏ chạy tháo thân. Tô Định mặt mày trắng bệch, vứt cả ấn tín, cắt tóc, cạo râu, bỏ trốn về Nam Hải (Quảng Đông – Trung Quốc ngày nay). Quân Hán ở các quận khác cũng bị đánh tan.

Chiến thắng giòn giã của hai nữ tướng làm nức lòng nhân dân cả nước. Đất nước đã sạch bóng quân thù. Nên độc lập được phục hồi sau 200 năm bị đô hộ. Trưng Trắc được suy tôn làm vua, xưng hiệu Trưng Nữ Vương, đóng đô ở Mê Linh. Sau khi lên ngôi, Trưng Vương đã phong tước cho Trưng Nhị và những người có công.

Tin hai nữ tướng trẻ khởi nghĩ xưng vương làm chấn động cả triều đình nhà Hán. Vua Quang Vũ đỏ mặt tía tai, nổi trận lôi đình:

Thật nhục nhã! Đấng mày râu lại thua phái quần thoa! Nỗi nhục này không thể nào nuốt nổi!

Vua Hán bèn hạ chiếu điều hai vạn quân, hai nghìn thuyền xe, phong Mã Viện làm Phục ba tướng quân chỉ huy, chia thành hai cánh theo đường thủy – bộ tràn qua biên giới nhằm tái chiếm nước ta. Đất nước một lần nữa lâm nguy. Đứng trước cơn nguy biến. Trưng Nữ vương ngẫm nghĩ:

Thế giặc hung tàn đằng đằng sát khí mà triều đình thì con non trẻ, chi bằng kêu gọi dân chúng khắp nơi đứng lên kháng chiến.

Nghĩ thế, Trưng Nữ Vương bèn phát hich kêu gọi kháng chiến, tổ chức lực lượng đánh địch ngay tại vùng biên giới. Nhưng trước thế giặc quá mạnh. Trưng Nữ Vương đành phải cho quân rút về căn cứ Cẩm Khê (vùng Ba Vì – nay thuộc Hà Nội)

Năm Quý Mão, Mã Viện dồn sức đánh vào căn cứ Cẩm Khê. Cuộc giao tranh diễn ra quyết liệt, Hai Bà Trưngchỉ huy tướng sĩ chiến đấu ngoan cường nhưng thế giặc mạnh nên cuối cùng quân khởi nghĩa đã thất bại. Quyết không rơi vào tay giặc, Hai Bà gieo mình xuống sông tử tiết. Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại, nước Việt ta lại bị phong kiến phương bắc đô hộ một lần nữa.

Tưởng nhớ ơn đức của Hai Bà Trưng, nhân dân đã dựng đền thờ ở Hà Tây (nay thuộc Hà Nội), ghi tạc vào núi sông hình ảnh hai vị nữ tướng đất Việt dựng nghiệp bá vương làm vẻ vang trang sử chống ngoại xâm của nước ta. Cuộc khởi Hai Bà Trưng đã mở đầu cho truyền thống đấu tranh chống các thế lực đô hộ nước ta. Là tấm gương để các bậc anh hùng hào kiệt dân tộc kế tiếp nhau đứng lên đánh đuổi ngoại xâm giành độc lập chủ quyền dân tộc.

 Sưu tầm, tổng hợp